Chuyển đến nội dung chính

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA TIÊU RA MÁU

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA TIÊU RA MÁU

CHỮA TIÊU RA MÁU
50 Bài thuốc

Là đại tiện ra máu và trong tạng phủ chất chứa độc thấp nhiệt mà sinh ra, hoặc nhân lo nghĩ, rượu chè sắc dục quá chừng, hoặc ham ăn đồ chiên xào, nhiệt độc quá nhiều hoặc cảm phong tà, hoặc cảm thử thấp đến nỗi khí huyết nghịch loạn, vinh vệ sái đường, nên khí đi bậy đưa máu đi càn lên đến não ra các khiếu trên, đi xuống thì ra các khiếu dưới nên tiêu ra máu, hoặc ra máu trước phân sau, hoặc phân ra trước máu sau, hoặc phân với máu ra cùng một lúc.

Phép chữa đều phải thanh nhiệt giải độc.

1. Tiêu ra máu
- Mực tàu tán bột 2 đc, A giao nấu tan hòa lẫn mà uống, bệnh nóng càng nhiều càng hợp thuốc này.

2. Tích nhiệt tiêu ra máu
- Đó là ruột với dạ dày tích nhiệt hoặc vì tửu độc, đại tiện ra máu, đau bụng khát nước mạch sác.
- Hoàng liên 4 lạng, chia 4 phần: 1 phần để sống, 1 phần sao qua, 1 phần ngâm nước sôi, 1 phần tẩm nước lạnh; Hoàng cầm 1 lạng, Phòng phong 1 lạng đều tán bột viên với hồ; Chỉ xác tẩm nước gạo nấu uống, mỗi lần 50 viên, mùa đông gia Đại hoàng (chưng với rượu) 1 lạng.

3. Tiêu ra máu không cầm được
- Kinh giới sao tán bột uống 2 đc với nước cơm, phụ nữ uống với rượu hoặc trộn bột mì mà ăn cũng được.

4. Các chứng tiêu ra máu
- Hương phụ tẩm nước tiểu 1 ngày sao với giấm chua, đậu đen (thứ tía, nấu bồ kết lấy nước tẩm đồ sao chín bỏ vỏ), 2 thứ tán bột trộn mỡ lợn viên, uống.

5. Tiêu ra phân trước rồi sau ra máu
- Lá ngải, gừng tươi nấu lấy nước uống 3 cáp.

6. Tiêu tiểu ra máu
- Lưu kí nô (1), Tầm gửi đất, tán bột uống lúc đói 2 đc với nước chè.
(1) Lưu kí nô là một vị thuốc do vua Tống Cao Tổ (Lưu Dũ) phát minh mà tên cũ là kí nô nên gọi Lưu kí nô.

7. Tiêu ra máu không khỏi
- Mộc tặc 5 đc, sắc uống ngày 2 lần.

8. Tiêu ra máu vì hư hàn
- Phụ tử chế 1 củ, gừng sống 2,5 đc
- Phèn chua 2 đc, đậu đen 100 hột sắc uống.

9. Tiêu ra máu nguy quá không cứu được
- 1 quả mướp đốt tồn tính, hoa hòe 1 nửa, tán bột uống với nước cơm ngày 2 lần khỏi ngay.

10. Tiêu máu lâu năm không khỏi
- Quyền bách và Địa du sấy khô 2 vị đều nhau, mỗi lần lấy 1 lạng sắc với 1 bát nước, nấu sôi vài chục dạo uống cả ngày.

11. Tiêu chảy ra máu
- Hạt mùi 1 cáp, sao thơm, tán 1 lần uống 2 đc với nước chín, ngày 2 lần.
- Địa phu tử sắc lấy nước (không có hạt thì dùng lá giã vắt lấy nước) nấu cháo gạo tẻ ăn.
- Tóc rối 5 đc đốt thành tro, hoa Mào gà, lá Trắc bá đều 1 lạng tán, uống 2 đc với rượu lúc đi ngủ, sáng sớm uống 1 chén rượu nóng chỉ 1 lần là hữu hiệu.
- Hoa hòe, hột Mã đề đều nhau, sao chung tán uống 2 đc với nước là yên.

12. Tiêu chảy ra máu không ngớt
- Cỏ Tháp bút 5 đc, sắc uống lúc đói.

13. Người già tiêu ra máu không ngừng đã uống thuốc cầm không thấy công hiệu
- Dùng Tứ vật thang gia Đơn bì, Bạch truật để điều hòa tỳ vị là khỏi.

14. Đi ngoài ra máu, không kể là chứng trường phong hay chứng tạng độc
Trường phong với tạng độc đều tiêu ra máu nhưng mức độ nặng nhẹ khác nhau:
- Trường phong: tiêu máu trước, máu tươi, còn gọi là cận huyết.
- Tạng độc là máu ra sau phân, bầm đen, gọi là viễn huyết.
- Lá đơn tía (đơn mặt trời, miền Nam gọi là lá liễu trồng làm cảnh) 1 nắm, sắc đặc uống khi đói, bệnh nặng cũng chỉ uống 3 lần là khỏi.
- Cỏ sẹo gà, Gương sen, vỏ Cây vải, Tinh tre, Hồng hoa, sắc 3 phân. Vỏ bưởi (bỏ cùi trắng) 2 phân, cỏ Bấc 1 phân, Mộc thông 1 phân, nước 1 bát, sắc còn 1/2, bỏ bã, hòa 1/2 chén mật ong uống lúc đói.
- Lá Ngải cứu 1 nắm, đậu đen 100 hột, nước 1 bát, sắc còn 1/2, hòa 1/2 chén nước uống.

15. Trường phong hạ huyết
- Quả cà già cả tai (đã qua mùa sương) đốt tồn tính, tán, 1 lần uống 2 đc với rượu lúc đói.
- Mướp 1 quả già (đã qua mùa sương) đốt tồn tính, tán, 1 lần uống 2 đc với rượu khi đói, hoặc giã 1/2 đc hoa hòe cùng sao, tán, uống với nước cơm, bệnh nguy cũng chữa được.
- Thạch xương bồ (tẩm nước gạo), hoa Hòe, sao, đều nhau, tán, 1 lân uống 2 - 3 đc với nước cơm khi đói.
- Bột bồ kết, hột hoa hòe, đều 1 phân, sao chung với lúa chiêm, bỏ lúa lấy thuốc, tán, uống 1 đc với nước sắc gạo.
- Chỉ xác đốt tồn tính 5 đc, xương ống chân dê, đốt thành tro 3 đc, đều tán. Gần sáng (canh 5) đang đói uống với nước cơm, 1/2 giờ sau lại uống lần nữa - không kể lâu mới, uống 1 ngày là công hiệu.
- Vỏ cây vải, cạo bỏ vỏ ngoài, sắc nhỏ, sắc uống khi đói.
- Nhân quả Dành dành sao đen 1 cặp, tán, 1 lần uống 1 đc với nước. Có phương gia hồ tiêu 5 hột, viên hồ bằng hạt ngô đồng uống 20 viên.
- Củ nghệ, xắt lát sấy khô 1 phân, hoa Hòe sao 2 phân – cùng tán, 1 lần uống 2 đc với nước nấu mực tàu ngày 2 lần.
- Đậu đen thứ săn nhỏ, tẩm nước sắc bồ kết 1 lúc, rồi đem đậu sao vàng, bỏ vỏ tán, viên với mỡ lợn rán bằng hạt ngô đồng, uống 30 viên với nước gạo.
- Hoa Kinh giới - hoa Hòe, sao đỏ đều bằng nhau - tán, 1 lần uống 3 đc với nước trà hoặc nước sắc Bạc hà. Có phương gia Thanh bì, hoặc Trắc bá diệp sao và Chỉ xác bỏ ruột sao (đều bằng nhau).
- Tằm voi, bỏ đầu, chân, sao - 2 phân. Ô mai nhục 1 phân, tán - viên với hồ bằng hạt ngô đồng, 1 lần uống 20 viên với nước cơm lúc đói.

16. Tiêu chảy rồi kiết lỵ
- Khô phàn phi tán nhỏ, lấy giấm nấu hồ mà viên, mỗi lần uống 20-30 viên. Lỵ sắc trắng thì thang với nước gừng.

17. Trường phong tiêu ra máu hàng tuần không khỏi
- Củ cải, thứ lớn 2 - 3 củ cả lá 12 lá, nấu với nước giếng chín nhừ, hòa giấm lạt, ăn cho phỉ sức lúc đói, rất hay.
- Hột quả đào (yêu đào tử) bỏ vỏ lấy nhân, mài đặc với nước cơm, uống.
- Vỏ củ cải, lá sen, cùng đốt tồn tính, đều nhau, tán, 1 lần uống 1 đc với nước cơm.
- Củ tỏi mật, nướng chín, Hoàng liên, tán, trộn lẫn viên bằng hạt ngô đồng 1 lần uống 30 viên với nước cơm lúc đói.
- Dạ dày lợn (rửa sạch) 1 cái, hoa hòe, sao, tán, bỏ vào buộc chặt, dùng giấm với rượu ngon và nước cùng đổ vào, đun nhỏ lửa, chín nhừ, nghiền nát, viên bằng hạt ngô đồng, 1 lần uống 50 - 60 viên với rượu hay nước cơm lúc đói.
- Chỉ xác, bỏ ruột, 2 lạng, da nhím, tóc rối, hoa hòe, đều 1 lạng, đốt thành tro, tán, 1 lần uống 2 đc với nước sắc rễ chanh lúc đói.
- Mai mực, nướng vàng, tán, 1 lần uống 1 - 2 đc với nước sắc Mộc tặc.
- Nam tinh, cùng vôi đá, sao cháy vàng, bỏ vôi lấy Nam tinh tán viên với hồ rượu bằng hạt ngô đồng 1 lần uống 20 viên với rượu nhạt.
- Cốt toái bổ (đốt tồn tính) 5 đc, tán, uống với rượu hay nước cơm lúc đói.

18. Tạng độc ra máu không ngớt
- Hà thủ ô 2 lạng, kỵ sắt, tán, 1 lần uống 2 đc với nước cơm trước khi ăn.
- Hột bìm bìm 2,5 lạng, bồ kết 1,5 lạng, cùng ngâm nước 3 ngày, nấu bồ kết cùng nửa cân rượu đến khi rượu cạn, sấy khô, tán, viên với mật bằng hạt ngô đồng, 1 lần uống 7 viên với rượu lúc đói, trong ngày uống thật nhiều, đi ra vật vàng cũng không can gì. Bệnh bớt rồi uống 5 viên với nước cơm.
- Hột trám, đốt tán, 1 lần uống 2 đc với nước cơm khi đói thì khỏi.
- Nấm tai mèo của cây hòe, 2 lạng, sơn khô 2 lạng - Đều đốt tán, 1 lần uống 1 đc với rượu nóng.
- Muội nồi, 5 đc, hòa nước cơm phơi sương 1 đêm, sáng mai uống lúc đói.

19. Đàn ông tiêu ra máu
- Đậu đen 1 thăng sao cháy, tán, ngâm rượu nóng bỏ bã, uống.

20. Đại tiện ra máu vài tháng
- Hoàng bá 1 lạng bỏ vỏ, dùng lòng trắng trứng gà bôi vào nướng, tán, viên với nước bằng hạt đậu xanh uống 1 lần 7 viên với rượu nóng.
- Lá Trắc bá, tùy 4 mùa mà hái:
+ Bệnh về mùa xuân hái lá hướng Đông
+ Bệnh về mùa hè hái lá hướng Nam
+ Bệnh về mùa thu hái lá hướng Tây
+ Bệnh về mùa đông hái lá hướng Bắc
Đốt, tán, uống.

21. Sau khi lành bệnh tiêu ra máu, nguyên khí trong mình suy, sưng phổi nặng nề yếu sức
- Tầm gửi cây dâu, tán, uống 1 lần 1 đc với nước sôi.

22. Tiêu ra máu do di truyền
- Sa nhân tán, sắc 2 đc với nước cơm uống mãi đến lành thì thôi.

23. Tiêu ra phân trước rồi ra máu
- Lá ngải cứu 1 nắm, gừng sống 1 củ nhỏ, xắt lát, đổ nước sắc đặc, uống 3 cáp là lành. Hoặc gia thêm đậu đen cáp.
- Cạo lấy nốt sù sì ở cây dâu to, đổ nước sắc uống rất hay.

24. Tiêu ra máu do uống rượu nhiều
- Thanh hao, dùng lá thì bỏ cọng, dùng cọng thì bỏ lá, sấy khô, tán, 1 lần uống 2 - 3 đc, máu ra trước phân thì thang với nước lạnh, máu ra sau phân thì thang với rượu.

25. Vì độc rượu tiêu ra máu hoặc đi lỵ
- Lá Trắc bá non (chín lần đồ, chín lần phơi) 2 lạng - Hoa hòe lâu năm, sao đen 1 lạng. Đều tán, viên với mật bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 40 viên với rượu ấm lúc đói.
- Lá Trắc bá, hoa hòe đều sao. Bẹ mốc (Tông bì) đốt ra than, đều nhau, tán 1 lần uống 1 đc với nước cơm khi đói.
- Nhân quả Dành dành sấy tán, 1 lần uống 1 đc với nước.
- Hột hòe 1 lạng 1/2 sống 1/2 sao, nhân quả Dành dành 5 đc đều sao, tán, 1 lần uống 2 đc với nước mới múc lúc đói.
- Theo phương trên bỏ nhân hột Dành dành, gia gương sen.
- Chỉ xác đều sao, uống với nước cơm.

26. Vì uống nước nóng mà ra máu hoặc vì ăn đồ nóng mà ra máu
- Đậu đỏ, tán, 1 lần uống 2 đc với nước lã.
- Củ sắn dây - củ sen, đều nhau, đều giã sống vắt lấy nước 2 thăng uống.

27. Tiêu ra máu vì độc rượu sinh đi lỵ, hoặc đi lỵ lâu ngày
- Ô mai 3 lạng đốt tồn tính, tán, viên với hồ giấm bằng hạt ngô đồng, 1 lần uống 20 viên với nước cơm lúc đói, ngày 3 lần.

28. Trường phong, uống rượu sinh lỵ và chứng loét ruột sinh lỵ ra máu
- Quán chúng, bỏ lông, sắc nhỏ, sấy khô, tán, 1 lần uống 2 đc với nước cơm lúc đói.
- Quán chúng, đốt tồn tính, để cho tiết hết hòa độc, tán, gia ít Xạ hương, uống với nước cơm.

29. Trẻ con tiêu ra máu
- Rễ cây mai cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, đập nát, nước 1 bát sắc còn 1/2 uống lúc đói.

30. Trường phong tạng độc
Trường phong là tiêu ra máu tươi, tóe ra như phun mà hậu môn không sưng không đau là do phong tà gây nên. Tạng độc là hậu môn sưng bằng quả mận, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ, do thấp nhiệt gây nên.
- Bột muội nồi đất 5 đc, trộn nước cơm phơi sương 1 đêm, sáng mai uống.

31. Đại trường hạ huyết vì tửu độc
- Năm con ốc nhồi, đốt đến khi vỏ trắng và thịt khô, nghiền nhỏ, hòa rượu uống mỗi ngày 1 lần.

32. Trường phong hạ huyết, lâu năm không khỏi, hư yếu
- Phèn xanh 4 lạng, bỏ vào nồi đất mới, lấy ngói mới đậy lên, trộn nước với bùn trát kín, lấy Thanh diêm, Lưu hoàng, mỗi vị 1 lạng cùng bỏ nung đỏ, bắc ra để cho bốc hết hỏa độc, nghiền thêm vào 1 lạng bột Phụ tử, uống với nước cơm hoặc rượu mỗi lần 30 viên.

33. Trường phong hạ huyết
- Thổ chu nướng, tôi vào giấm, nghiền uống với nước sôi.
- Thương truật tẩm nước bồ kết 1 đêm, sấy khô nghiền làm viên uống.
- Bạch chỉ, hoa hòe, Chỉ xác, đốt cháy 3 vị đều nhau, tán bột lấy nước mới múc về hoặc nước cơm, uống mỗi lần 2 đc.
- Mộc hương, Hoàng liên đều nhau tán bột, nhồi vào ruột già lợn, khâu lại, ninh nhừ rồi giã ra làm viên uống.

34. Trường phong hạ huyết
- Hoa hòe 8 đc, Ô mai 3 quả, Sinh địa 8 đc, Đương quy 1 đc; Kinh giới tuệ, Chỉ xác, Thược dược, Xuyên khung, Địa du mỗi vị 8 đc. Bệnh đã lâu giã Nhân sâm - Bạch truật - Phòng phong mỗi vị 8 phân sắc uống.

35. Trường phong hạ huyết
- Một con cá diếc tươi, bỏ ruột để vảy, nhồi bột nghệ, Ngũ vị tử vào đây bụng cá, rồi lấy đất nặn bọc kín, đốt tồn tính, tán bột, uống với rượu, 1 lần 1 đc, hoặc viên với cơm cũng được.

36. Trường phong hạ huyết
- Bán nguyệt hoa (tục gọi nấm đỗ), sao vàng sắc uống.

37. Trường phong hạ huyết
- Hoài sơn, hoa hòe, Phục linh, mỗi vị 3 đc, đều tán nhuyễn nhồi vào ruột già lợn, nấu chín ăn liền 3 bận thì khỏi.

38. Trường phong hạ huyết
- Hoàng kỳ - Hoàng liên đều nhau tán bột, viên với hồ, uống với nước cơm mỗi lần 20 viên.

39. Trường phong hạ huyết
- Lấy dái lợn lòi đốt cháy, nghiền nhỏ uống.

40. Bệnh trường phong đã lâu năm
- Thạch yến mài với nước uống thường xuyên.

41. Trường phong đã lâu, đau ngứa không khỏi
- Địa du 1 lạng
- Chích thảo 3 lạng, tán bột nấu 1 bát nước với 4 hột Sa nhân, chia 3 lần uống.

42. Đại trường hạ huyết
- Hoa mồng gà trắng sao, tóc rối đốt ra than.
- Trắc bá diệp tán nhỏ hòa rượu mỗi lần uống 2 đc.

43. Trường phong hạ huyết
- Đậu đen 3 lạng
- Rau má 2 lạng
- Muội nồi 1,5 lạng
Đậu đen sao cháy tồn tính, muội nồi sao qua trộn lẫn với đậu đen tán nhỏ thành bột. Rau má rửa sạch nấu nước làm thang để uống với thuốc.
Mỗi thang uống làm 3 lần, uống trước bữa ăn.
Trừ thấp, giải nhiệt và chỉ huyết.
Trong khi uống thuốc kiêng các thứ cay nóng, thuốc không có phản ứng gì.

44. Trường phong hạ huyết.
- Liên tu, Mao căn, Ý dĩ, Hoài sơn, Đường phèn, Cam thảo.

45. Trường phong hạ huyết.
- Trắc bá, Ngải diệp, Kinh giới, Hòe hoa, Cam thảo, Chỉ xác, Địa du, Huỳnh liên giải nhiệt máu ra lẽ nào.

46. Trường phong hạ huyết
- Hoạt thạch phi sao, Cam thảo môi giới thuốc nào uống trôi.

47. Tiêu chảy ra máu (do viêm nhiệt)
Ăn mộng đừa.

48. Tiêu chảy ra máu (do viêm nhiệt)
Mài cây dừa con vừa lú mộng với nước gạo vo mà uống.

49. Tiêu chảy ra máu (do viêm nhiệt)
Trẻ con: nướng 1 tép tỏi, đâm nhỏ, ngâm nước nóng để nguội uống.
Người lớn: 2 - 3 tép.

50. Tiêu chảy ra máu (do viêm nhiệt)
Uống sữa dê.

Trích từ sách: TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN 
của Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng 
do NXB Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh ấn hành


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chữa Tê Thấp và Đau Nhức - Chay

Còn gọi là Cây Chay. Tên khoa học Artocarpus tonkinensis A. Chev. Thuộc họ Dâu tằm Moraceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Diếp Cá

Còn có tên là cây lá giấp , ngư tinh thảo . Tên khoa học Houttuynia cordata Thunb. Thuộc họ Lá giấp Saururaceae. A. Mô tả cây. Cây diếp cấ là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá, hơi nhọn hay nhọn hẳn. Hoa nhỏ màu vàng nhạt, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng; trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc, toàn cây vò có mùi tanh như cá. Hoa nở về mùa hạ vào các tháng 5-8. (Hình dưới).

Chữa Cảm Sốt - Cỏ Mần Trầu

Còn gọi là ngưu cân thảo, sam tử thảo, tất suất thảo, cỏ vườn trầu, cỏ chỉ tía, cỏ dáng, cỏ bắc, cheung kras (Campuchia), mia pak kouay (Lào). Tên khoa học Eleusine indica (L.) Gaertn. (Cynosurus indica L.) Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramineae).

Chữa Bệnh Tiêu Hóa - Vối

Tên khoa học Cleistocalyx operculatus (Roxb). Merr et Perry (Eugenia operculata Roxb., Syzygium nervosum DC.). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CHỮA MỤN NHỌT MẨN NGỨA - Đơn Tướng Quân

Tên khoa học Syzygium formosum var , ternifolium (Roxb) Merr. et Perry (Eugenia ternifolia Roxb., Eugenia formosa var. ternifolia (Roxb) Duth). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CÂY THUỐC TRỊ BỆNH THÔNG DỤNG - DIẾP CÁ

Còn gọi là Dấp cá, rau Dấp, cây lá Giếp (Houttuynia cordata Thunb) thuộc họ lá Giấp (Saururaceae). Mô tả: Cây thảo cạo 20-40cm, Thân màu lục troặc tím đỏ. Lá mọc sọ le, hình tim, có bẹ, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá. Cụm hoa hình bông bao bởi 4 lá bắc màu trắng, gồm nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt. Hạt hình trái xoan nhẵn. Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Hoa Cứt Lợn

Còn có tên là cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, cỏ hôi. Tên khoa học Ageratum conyzoides L. Thuộc họ Cúc Asteraceae(Compositae). A. Mô tả cây Cây hoa cứt lợn là một cây nhỏ, mọc hàng năm, thân có nhiều lông nhỏ mềm, cao chừng 25-50cm, mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Lá mọc đối hình trứng hay 3 cạnh, dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa tròn, hai mặt đều có lông, mật dưới của lá nhạt hơn. Hoa nhỏ, màu tím, xanh. Quả bế màu đen, có 5 sống dọc (Hình dưới).

Chữa bệnh Tim - Vạn Niên Thanh

Còn gọi là thiên niên vận, đông bất điêu thảo, cửu tiết liên. Tên khoa học Rhodea japonica Roth. Thuộc họ Hành Alliaceae. Cần chú ý ngay rằng tên vạn niên thanh ở nước ta thường dùng để gọi nhiều cây khác nhau. Cây vạn niên thanh ta trồng làm cảnh là cây Aglaonema siamense Engl, thuộc họ Ráy Araceae. Còn cây vạn niên thanh giới thiệu ở đây thuộc họ Hành tỏi, hiện chúng tôi chưa thấy trồng ở nước ta, nhưng giới thiệu ở đây để tránh nhầm lẫn.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG

CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG 18 Bài thuốc Năm 1951 ở chiến khu Ð (Nam Bộ) có nhiều cán bộ và chiến sĩ đau dạ dày, chúng tôi phải tốn tiền nhiều để mua biệt dược ở Thành nhưng nào có giải quyết gì được. Tôi không thỏa mãn với cách giải quyết tận gốc bệnh được vì nghĩ rằng ở địa phương có một số nguyên liệu như kaolin chẳng hạn. Tôi khởi sự điều tra trong cơ quan và bộ đội, nguyên nhân nào làm cho đau dạ dày, có khi loét nữa. Kết quả điều tra là trong bộ đội có nhiều người đau hơn cơ quan, ở cơ quan thì nam giới đau nhiều hơn nữ giới. Lý do là vì công tác cho nên bộ đội phải ăn gấp, ăn nhanh hơn ở cơ quan. Ở cơ quan thì “nam thực như hổ, nữ thực như miêu” cho nên nam đau nhiều hơn nữ. Khi ta ăn nhanh thì không có thời giờ để cho nước miếng thấm vào thức ăn cho nên xuống dạ dày thì cơ thể phải tiết acide ra nhiều mới thủy phân được.

Đắp vết thương Rắn Rết cắn - Phèn Đen

Còn gọi là nỗ. Tên khoa học Phyllanthus reticulatus Poir. Thuộc họ Thầu dầu Euphorhiaceae.