Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA TRÚNG ĐỘC

CHỮA TRÚNG ĐỘC 91 Bài thuốc Trúng độc là ăn nhằm đồ độc, đô độc tồn tại trong tạng phủ hay là người bệnh chưa lành mà ăn đồ sống lạnh như hoa quả thịt sống hay trị bệnh cho uống thuốc có chất độc, mỗi tháng đầu độc 1 ngày, như tháng 1 ngày 1, tháng 2 ngày 2... Phàm thuốc độc có 5 loại đầu độc vào thức ăn, thuốc độc vào dạ dày thì trục độc theo đường đại tiện hoặc gây nôn, độc ra được thì dễ trị. Nếu đầu độc theo rượu, độc chạy khắp kinh lạc thì khó cứu.
Các bài đăng gần đây

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA BỆNH TRĨ

CHỮA BỆNH TRĨ 40 Bài thuốc Trĩ rò là chứng trong và ngoài hậu môn đều mọc mụn; nếu mọc mụn mà không vỡ mủ là “trĩ”; lở loét chảy máu mủ, chảy nước vàng gọi là “rò”. Cho nên trĩ thuộc chứng nhẹ, rò thuộc hư, chứng nặng. Nội kinh chia làm 5 chứng trĩ, tuy tên gọi khác nhau nhưng căn bản đều do ham ăn đồ gia vị, hoặc do rượu chè, dâm dục, lo nghĩ, uất nhiệt tích độc mà ra. Búi trĩ mọc kín trong hậu môn hoặc lồi ra ngoài; độc nặng thì búi to, độc nhẹ thì búi bé; to thì giống như cái mào gà, cái hoa sen, quả đào, bé thì giống như cái vú bò, quả tim gà, hay nhân hạt đào, hoặc chảy máu mủ, khi đi khi ngồi rất đau đớn khổ sở, lâu không khỏi sẽ sinh trùng. Phép chữa không ngoài thanh nhiệt, lương huyết, sát trùng là chủ yếu.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - TRỊ GIUN SÁN

TRỊ GIUN SÁN 30 Bài thuốc 1. Sán lãi a. Chuối chín lột chấm ăn thường Rang tán hột bỏ muối nhằm trị phương Bao nhiêu sán lãi tìm đường vong thân. b. Tiểu hồi, bông cỏ, Sử quân Cam thảo tán mạt uống lần bụng không. 2. Sán xơ mít - Hạt mủn (sao qua tán nhỏ) 3 lạng - Đường cát 2 lạng Tối nhịn cơm, sáng nướng 1 miếng thịt lợn, ăn thuốc xong ăn luôn thịt lợn. Cứ làm việc như thường, 2 giờ chiều con sán ra. Chỉ ăn vào đầu tháng âm lịch từ tháng 1 đến tháng 10 (đầu tháng sán ăn lên, cuối tháng sán ăn xuống)

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA SA TRỰC TRÀNG

CHỮA SA TRỰC TRÀNG 12 Bài thuốc Sa trực tràng là đầu ruột cùng lòi ra ngoài hậu môn. Ruột già có quan hệ gốc ngọn, có tương quan biểu lý với phế. Phế nhiệt thì nhiệt bế tắc không thông, phế hư thì ruột lòi ra không thu vào. Thế nên nguyên nhân sinh ra bệnh lòi dom hoặc vì có chứng trường phong hạ huyết, uống nhiều thuốc hàn lương quá mà lòi ra hoặc do lỵ lâu ngày rặn nhiều mà lòi ra cũng có, trẻ em do hò hét giận dữ và lỵ lâu ngày hư yếu bên trong mà lồi ra.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA TÁO BÓN

CHỮA TÁO BÓN 36 Bài thuốc Táo là do huyết mạch khô ráo, trên thì tân dịch khô kiệt, da đẻ khô nhăn, râu tóc quăn cứng; dưới thì bụng đau, tiểu sẻn đỏ, táo bón; nặng lắm thì cứng đờ. Đây là bệnh táo vì ăn nhiều đồ rán, nướng, cay, sắc dục quá độ, hoặc lúc bệnh uống nhiều thuốc công phạt hoặc cho phát hãn, hạ lợi thái quá, làm khô kiệt tân dịch, tinh huyết hao tổn rồi sinh táo. Táo bón là không đi cầu được vì đói no thất thường, nhọc mệt quá độ, tổn hại đến vị khí lại còn ăn đồ cay nóng, ngon béo để tạng thận hỏa độc, hỏa độc làm hao tổn chân âm, tân dịch kém sút không thấm nhuần được, nên sinh táo bón. Nội kinh chia táo bón ra làm 5 chứng phong, khí, hàn, nhiệt, thấp. Lại có người già khí hư, tân dịch không tư nhuận mà táo bón. Lại thêm sinh đẻ mất máu, tân dịch khô kiệt mà táo bón, các chứng đều có nguyên nhân, nên phân biệt mà chữa, mới không làm người bệnh chết oan. Phép trị chủ yếu là bổ huyết, sinh tân, bổ phế, nhuận tràng.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA HOÀNG ĐẢN (VÀNG DA)

CHỮA HOÀNG ĐẢN (Vàng da) 46 Bài thuốc Nguyên nhân Bệnh là do khí nhiệt nung nấu ở vị phủ và đởm phủ, bệnh nhân không ra mồ hôi, tiểu tiện không thông, nên uất tà không bài tiết được mà biến ra màu vàng bóng nhoáng. Đại khái, tức là bệnh vàng da, vì tỳ phạm thấp nhiệt, mà tỳ thuộc thổ, sắc vàng nên phát bệnh thì khắp mình đều vàng, tay chân mỏi rũ, giống như nước như lửa, không gươm không giáo mà hay giết người. Bởi vì tỳ vị là mẹ của mọi tạng phủ khác, mẹ đã ốm thì con làm sao yên được. Người bị bệnh hoàng đản, mắt mặt và toàn thân đều một màu vàng, có đặc điểm là nước tiểu vàng dính lên quần trắng giặt tẩy không đi.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - LỢI GAN MẬT

LỢI GAN MẬT 19 Bài thuốc 1. Lợi gan mật - Mật lợn - mật bò 300g - Nghệ khô tán bột 100g - Dung dịch phèn chua bão hòa * Chế: - Mật lợn - đun sôi (khử trùng vì có ký sinh trùng). - Đun sôi dung dịch phèn chua rồi để nguội. - Nhỏ dung dịch phèn chua vào mật cho kết tủa hoàn toàn. - Lọc lấy kết tủa, để ráo - Trộn bột nghệ vào làm viên bằng hạt đậu * Dùng:   Sáng 5 - 10 viên Chiều hoặc tối 5 - 10 viên.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA XƠ GAN CỔ TRƯỚNG

CHỮA XƠ GAN CỔ TRƯỚNG 16 Bài thuốc 1. Chứng lớn bụng nước do gan cứng a. Củ hành tây ép lấy nước 200g -Mật ong 100g - Rượu nhẹ 12 - 14° 1 lít Ngày uống 2 lần sáng và tối mỗi lần 30 - 60g Ngoài ra trừ đàm và ra mồ hôi b. Củ hành tây ép lấy nước 1 phần - Rượu 90° 1 phần Ngày uống từ 14 - 40g cồn nước này.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG

CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG 18 Bài thuốc Năm 1951 ở chiến khu Ð (Nam Bộ) có nhiều cán bộ và chiến sĩ đau dạ dày, chúng tôi phải tốn tiền nhiều để mua biệt dược ở Thành nhưng nào có giải quyết gì được. Tôi không thỏa mãn với cách giải quyết tận gốc bệnh được vì nghĩ rằng ở địa phương có một số nguyên liệu như kaolin chẳng hạn. Tôi khởi sự điều tra trong cơ quan và bộ đội, nguyên nhân nào làm cho đau dạ dày, có khi loét nữa. Kết quả điều tra là trong bộ đội có nhiều người đau hơn cơ quan, ở cơ quan thì nam giới đau nhiều hơn nữ giới. Lý do là vì công tác cho nên bộ đội phải ăn gấp, ăn nhanh hơn ở cơ quan. Ở cơ quan thì “nam thực như hổ, nữ thực như miêu” cho nên nam đau nhiều hơn nữ. Khi ta ăn nhanh thì không có thời giờ để cho nước miếng thấm vào thức ăn cho nên xuống dạ dày thì cơ thể phải tiết acide ra nhiều mới thủy phân được.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA NÔN MỬA, PHIÊN VỊ

CHỮA NÔN MỬA 44 Bài thuốc Nôn mửa là ăn uống vào dạ dày rồi nôn ra. Nôn thì có tiếng mà không có vật, mửa lại có vật mà không có tiếng. Nhưng tiếng nôn có dài ngắn khác nhau, vật mửa ra có mửa đàm, mửa đồ ăn khác nhau. Có khi vì yếu dạ dày không thể tiếp thu đồ tanh lạnh, có khi vì trúng hàn, trúng thử, có khi vì khí kết đàm tụ, có khi do máu độc ứ đọng, có khi do hỏa tà xung lên mà nôn mửa. Nội kinh nói: Các chứng nôn mửa khí nghịch xung lên đều thuộc về tâm hỏa nên thể theo ý ấy mà chữa. Phiên vị Phiên vị là chứng ăn vào mửa ra, vì mừng giận, lo nghĩ, làm việc mệt nhọc, sợ hãi, thất tình làm hại tỳ vị, uất mà sinh đàm, đàm và khí cùng chồng nhau, chỉ nghịch lên mà không hạ xuống, nên ăn vào cứ đưa ngược lên mà không chuyển vận xuống được, nhưng gốc bệnh sinh ra có 4 điều: khí hư, huyết hư, có đàm, có nhiệt cho nên sinh ra bệnh hoặc đầy ách, hoặc đau, hoặc không muốn ăn uống, hoặc ợ hơi nuốt chua, sáng ăn chiều mửa, nên tìm nguồn gốc bệnh mà chữa.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA KIẾT LỴ

CHỮA KIẾT LỴ 159 Bài thuốc Kiết lỵ là trong bụng quặn đau, đại tiện bức bách, mót cầu mà rặn hông ra, phân trắng hay đỏ, hoặc đỏ trắng lẫn lộn, hoặc vàng hoặc đen hoặc như óc cá, hoặc như nước nhà dột. Đó là vì bệnh có nặng nhẹ, chứng có nóng lạnh, không giống nhau, nhưng đại để là do vị bị thấp nhiệt hay thực tích mà sinh bệnh. Thấp nhiệt, thực tích phạm đến huyết thì đỏ trắng, phạm đến cả khí huyết thì đỏ trắng lẫn lộn; phân vàng là thực tích, phân đen là thấp nhiệt. Nội kinh: Đại tiện đỏ là thuộc huyết bệnh ở đại tràng, đại tiện trắng là thuộc khí bệnh ở tiểu tràng. Phép chữa: Bệnh mới phát phải hạ, bệnh lâu nên bổ. Trẻ bị kiết lỵ là do nội thương ẩm thực, như khi no quá, dư độc tích lại; ngoại cảm phong hàn thử thấp làm cho tạng phủ bất hòa, tỳ vị bị thương tổn mà sinh phát bệnh. Có nhiều chứng lỵ khác nhau, ly nhiệt thì phân đỏ, lỵ hàn thì phân trắng, lỵ phong thì phân xanh, lỵ thấp thì phân như nước đậu, cả nhiệt hàn thì trắng đỏ lẫn lộn, mót rặn mà không đi cầu được lại quặn

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA THỔ TẢ (Hoắc loạn)

CHỮA THỔ TẢ (Hoắc loạn) 57 Bài thuốc Hoắc loạn là chứng cấp bách rối loạn, vì ngoại cảm phong hàn nội thương ẩm thực đói no không chừng, nên sinh ra, phát bệnh thì trong bụng quặn đau, nóng lắm mà sợ lạnh, đau đầu chóng mặt hoặc tả mà không thổ hoặc thổ mà không tả, hễ đau bụng trên trước thì thổ trước, đau bụng dưới trước thì tả trước, bụng trên dưới đều đau thì cả thổ và tả. Hễ có thổ tả thì gọi là “thấp hoắc loạn” dễ trị, không thổ tả thì gọi là “can hoắc loạn” khó trị thậm chí tay chân giá lạnh chuột rút, bệnh này gấp rút ghê sợ, như sấm sét mưa gió dễ động dễ lặng, phải chữa cho gấp, chớ để chậm.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA TIÊU RA MÁU

CHỮA TIÊU RA MÁU 50 Bài thuốc Là đại tiện ra máu và trong tạng phủ chất chứa độc thấp nhiệt mà sinh ra, hoặc nhân lo nghĩ, rượu chè sắc dục quá chừng, hoặc ham ăn đồ chiên xào, nhiệt độc quá nhiều hoặc cảm phong tà, hoặc cảm thử thấp đến nỗi khí huyết nghịch loạn, vinh vệ sái đường, nên khí đi bậy đưa máu đi càn lên đến não ra các khiếu trên, đi xuống thì ra các khiếu dưới nên tiêu ra máu, hoặc ra máu trước phân sau, hoặc phân ra trước máu sau, hoặc phân với máu ra cùng một lúc. Phép chữa đều phải thanh nhiệt giải độc.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA TIÊU CHẢY

CHỮA TIÊU CHẢY 75 ài thuốc 1. Tỳ tả lâu năm - Hạt sen già, bóc vỏ bỏ tim, sao vàng tán 2 đc, nấu nước mà uống lúc đói. 2. Bỗng nhiên đi tả bụng chướng ngày đêm đi mãi, do khí thoát - Ích trí nhân 2 lạng, sắc đặc uống. - Sáp ong, 1 lần 2 đc, 2 quả trứng gà, tí muối, xào chín ăn, chưa khỏi ăn lần nữa. - 4- 5 hạt hồng xanh, bọc giấy ướt nướng chín ăn khỏi ngay. 3. Hàn tả tiêu toàn nước - Can khương nướng tán uống 2 đc với nước cháo. 4. Sau khi thổ tả thoát dương nguy cấp chân tay lạnh bất tỉnh - Hành tăm giã xào nóng chườm vào lỗ rốn, lại dùng 21 nhánh hành khác giã nát hòa rượu uống thì hồi dương. 5. Đau bụng tiêu chảy do tạng hàn cực hư - Lưu hoàng - Sáp ong - đều 2 lạng nấu chảy, viên bằng hạt ngô đồng mỗi lần uống 5 viên với nước mới múc. 6. Tiêu chảy lâu ngày sắp nguy do thận hư - Cốt toái bổ tán, Bầu dục lợn bổ đôi, móc bỏ cái chất trắng ở giữa, nhét thuốc tán vào áp lại, nướng chín ăn.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA BỆNH CỔ HẦU HỌNG

CHỮA BỆNH CỔ HẦU HỌNG 73 Bài thuốc Yết hầu là một bộ phận rất quan trọng, người xưa chỉ yết hầu là bao gồm cả đường hô hấp và ăn uống. Nếu yết hâu bị đau, cần điều trị kịp thời, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Bệnh đau yết hầu thường thấy: cổ họng bị nghẹt, có lúc sưng, nóng, đỏ hoặc hồng nhợt, nuốt nước miếng cũng đau, có khi đau không ăn uống được. Có lúc đột nhiên trong cổ bị tắc nghẹt sưng đau, nói không ra tiếng, nước nuốt không xuống là bệnh thuộc cấp tính, cần điều trị kịp thời. 1. Hầu họng tê sưng đau Tùng dương, Cam thảo mỗi vị 1/2 lạng, Thanh đại 1 lạng tán bột, viên với hồ và giấm, ngậm mỗi lần một viên. Hoặc Thổ chu nấu lấy nước, mài Thạch giải uống; gia thêm Đơn sa, Chu sa, Thần sa để đắp ngoài cổ họng. 2. Lưỡi sưng họng đau sinh ra cục thịt thừa trong họng Lấy quả cân bằng sắt nung đỏ, nhúng vào một chén rượu như tôi thép, lấy rượu đó ngậm nuốt dần. 3. Hầu họng đau đớn Ngân chu, Hải phiêu tiêu đều nhau, tán bột, thổi vào họng cho nước miếng chảy ra.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA HO

CHỮA HO 60 Bài thuốc 1. Ho lâu mất tiếng, ho do hư nhiệt, thể hiện khô miệng, sổ mũi - Mía ép lấy nước, nấu cháo hạt kê, ăn ngày 2 lần, nhuận tinh phổi. - Thiên hoa phấn 1 lạng, Nhân sâm 3 đc. Đều tán, mỗi lần uống 1 đc trước bữa cơm sẽ hết. 2. Ho lâu mất tiếng Ho lâu năm, các thuốc đều vô hiệu: Phân tằm, mỗi lần dùng 1 thang tán nhỏ, khuấy nước để lắng trong, nấu cơm gạo tẻ ăn 5 – 6 lần là khỏi. 3. Ho lâu mất tiếng Ho lâu năm, các thuốc đều vô hiệu: Thiên môn đông. Mạch môn đông, củ Bách bộ đều bỏ vỏ bỏ lõi, mỗi thứ 1 lạng. Bạch mai 3 quả. Tang bạch bì 5 đc. Dùng 1 chén nước cốt gừng hòa với mật ong, luyện làm viên bằng hạt nhãn, mỗi lần ngậm 1 viên rất hay. 4. Ho lâu mất tiếng Ho lâu năm, các thuốc đều vô hiệu: Đào nhân 2 lạng (bỏ vỏ và đầu nhọn, hạt nào có 2 nhân thì không dùng). Ngâm với nước tiểu trẻ em 5 tháng, cùng phơi khô giã nát, viên và hồ bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 30 viên cách xa bữa ăn, uống với nước sôi.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA HO GÀ

HO GÀ 20 Bài Thuốc 1. Bài thuốc trị ho gà - Mật gà (trống hoặc mái) 10 cái - Hạt mướp đắng 20 hạt - Đường (đỏ, trắng) 10g - Hạt chanh 20 hạt Chọc lấy mật, bóc lấy vỏ hạt mướp đắng và chanh, đậy nút kỹ không thêm nước, đun cách thủy 2 giờ. Dùng trong 1 - 2 tháng, chấm thuốc bột vào miệng. 2. Bài thuốc ho gà - Trần bì 1 lạng - Binh cam thảo (tả hỏa) 3 lạng - Bạch phàn phi 1 lạng - Mầm mạ nếp (để giữ vững chân tỳ) 5 lạng Sắc lấy nước. Mạ nếp ngâm một đêm (không ngâm ban ngày) độ 5 hôm, cho mọc như giá, bỏ hạt, lấy mầm, phơi khô (trời rét phải một tuần, dài bằng giá ăn).

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA HEN SUYỄN

HEN SUYỄN 81 Bài thuốc 1. Bài thuốc suyễn (Tạ Văn Tân) Suyễn là nan y sụt sùi Kiến cò cây rễ sao lùi uống ngay. 2. Bài thuốc suyễn (Tạ Văn Tân) Cứt sùng 1 Hạnh nhân 2 Viên bằng hột đậu uống ngày 50. 3. Bài thuốc suyễn (Tạ Văn Tân) Tía tô, Ý dĩ, Địa long 1 nắm sao, sắc trị suyễn. 4. Bài thuốc suyễn (Tạ Văn Tân) Bìm bìm 1 lạng nấu với nước cháo trắng Xổ liền trừ căn. 5. Bài thuốc suyễn (Tạ Văn Tân) Tóc tiên, Nguyệt bạch cũng cần Bồ bồ lấy củ, Tía tô lấy cành Rễ chanh, Cườm gạo, Giây lành Thuốc dù dùng rễ cho bằng nhúm tay Sao vàng khử thổ cho hay Suyễn trừ theo đúng phép nầy mới xong.

CÂY THUỐC TRỊ BỆNH THÔNG DỤNG - MỘT SỐ THUẬT NGỮ Y HỌC DÂN TỘC THƯỜNG DÙNG

Ác sang: nhọt độc hoặc bệnh ngoài da phá lở loét, mùi hôi tanh nước vàng rỉ ra liên tục. Ách nghịch: bệnh nấc cụt. Âm dịch: các chất dịch trong cơ thể. Âm hư: âm dịch trong cơ thể bị hao tổn. Âm nang: Da bao trứng dái (cao hoàn). Âm oái: chứng liệt dương, bất lực. Âm thịnh: âm hàn quá thịnh, biểu hiện cơ năng suy giảm âm thịnh thì trong lạnh.

CÂY THUỐC TRỊ BỆNH THÔNG DỤNG - DANH MỤC MỘT SỐ BỆNH THÔNG THƯỜNG VÀ ĐIỀU TRỊ

DANH MỤC MỘT SỐ CHỨNG BỆNH THÔNG THƯỜNG VÀ CÁC LOÀI CÂY DÙNG ĐỂ ĐIỀU TRỊ ______________________________ Trong danh mục này chúng tôi không nêu lên các bệnh hiểm nghèo mà chúng ta cẦn tìm đến Y, Bác sĩ để điều trị. Tuy vậy cũng có một số bệnh, do điều kiện ở xa bệnh viện, chúng ta có thể tự tìm lấy thuốc để dùng nhằm tiết kiệm được công sức, thời gian đi lại và tiền của. Có những bệnh tuy là nhẹ, nhưng kéo dài mãn tính thì cũng cần tìm đến các thây thuốc, và tốt nhất là nên chữa từ đầu đừng để bệnh nặng sẽ khó chữa. Đối với mỗi bệnh, chúng tôi chỉ dẫn các cây có thể dùng để điểu trị, những cây điều trị có kết quả nhất thường được nêu lên trước tiên, tuy nhiên sự sắp xếp cũng không tuyệt đối, bởi vì có những cây được xem là ít hiệu nghiệm lại có thể điều trị tốt trong một số trường hợp khác. Đối với các dạng sử dụng cây thuốc, chúng tôi đã nêu ở phần đại cương, ở đây chỉ nêu lên một số chỉ dẫn phụ. Cần chú ý là về liều dùng các hỗn hợp thuốc (giữa nhiều loại cây chữa bệnh), nên chú ý đến