Chuyển đến nội dung chính

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA TRÚNG PHONG (TRÚNG GIÓ)

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA TRÚNG PHONG (TRÚNG GIÓ)

TRÚNG PHONG
47 Bài thuốc

Trúng phong là đầu các bệnh, biến hóa vô cùng, phát ra cũng bất nhất, triệu chứng như thình lình bổ ngã, cấm khẩu, bất tỉnh nhân sự, mắt méo lệch, sùi bọt mép, bán thân bất toại, nói khó, tay chân cứng đờ, không co duỗi được. Trong lúc khẩn cấp, chiếu các phương mà trị.

1. Kinh trị trúng phong, bất tỉnh sùi bọt mép, cấm khẩu, tay chân không cử động
Uống thang này thì không thành phế tật:
- Trắc bá diệp (bỏ cành) 1 nắm, hành trắng (cả rễ) 1 nắm giã nát, đun với 1 thăng rượu ngon sôi vài đạo thì uống. Không biết uống rượu thì sắc với nước cũng được. (Một bản khác chép: không uống được rượu 1 lần thì có thể chia uống 4 – 5 lần).

2. Kinh trị trúng phong, không nói, tâm phiền hoảng hốt, tay chân không cử động, hoặc đau bụng, đầy hơi, hoặc có lúc ngất đi rồi lại tỉnh
- Đậu đen lớn hạt, nấu bỏ bã, lấy nước cô thành cao mà ngậm, dùng lâu mới công hiệu.
- Hoa Kinh giới 2 đc, tán, uống với rượu khỏi ngay, thuốc hay bậc nhất.
- Hạt cải 1 cáp, tán, sắc với 2 chén giấm còn 1/2, bôi dưới góc hàm.
- Hạt củ cải, Trư nha, Tạo giác, mỗi thứ 2 đc, sắc với nước, uống, mửa được thì khỏi.

3. Kinh trị trúng phong, miệng câm, sùi bọt mép, tay chân không co duỗi, bất tỉnh
- Nước vòi măng tre (Trúc lịch) 2 đc, nước cốt gừng (Khương trấp) 1 đc, hòa đều, uống, khỏi ngay.
- Như trên, thêm 1 phần nước sắn dây tươi và 1 chén mật ong.
- Nam tinh tán, thêm tí Long não, chế thuốc vào ngày 05 tháng 5, khi dùng lấy ngón tay giữa chấm thuốc xát vào răng 2 – 30 lần thì miệng mở được.
- Bồ kết 10 quả, bỏ vỏ, bôi mỡ lợn nướng vàng, tán, mỗi lần uống 1 đc. Người mạnh uống 2 đc với rượu và nước sôi hòa lẫn, mửa ra hết đàm thì thôi.
- Lão bồ đằng, Thạch xương bồ, lá Ké đầu ngựa, Bạch long bì, Đại bì đằng. Các vị đều nhau, thêm 3 lát gừng, sắc với nước, uống nóng.
- Ba đậu bọc nhiều lớp giấy bản, ép cho thấm dầu ra giấy rồi cuốn giấy như điếu thuốc, đốt cháy rồi thổi tắt, hun khói vào lỗ mũi tức thì thấy chảy ra nước dãi, hoặc mửa ra máu độc thì sống.
- Bò cạp (Toàn yết) 1 con, dùng lá Bạc hà gói lại, đốt cháy rồi tán cả hai, uống 1 lần với nước sôi, nếu chưa đỡ lại uống lần nữa.
- Quất hồng 5 lạng, thái nhỏ, sắc với 3 bát nước còn 1 bát cho uống lúc còn nóng, rồi uống thêm nước nóng để gây nôn.

4. Kinh trị trúng phong, lưỡi cứng không nói được, con ngươi không động đậy, trong ngoài phiền nhiệt
- Gà mái đen 1 con, làm thịt, bỏ lông, ruột, rửa sạch, đổ vào 5 thăng rượu ngon nấu cạn còn 1/2, lấy nước đó chia 3 lần uống, còn thịt gà thì lấy hành tăm, gừng với gạo nấu cháo ăn, ăn xong đắp chăn kín cho ra mồ hôi là đỡ.

5. Trúng phong, khí nghịch, tay chân quyết lạnh, mửa toàn nước trong, kêu la vật vã
- Quế 1 lạng, nước 1,5 thăng, sắc còn 1/2 chờ nguội uống.

6. Trúng phong, trúng khí, đàm quyết (đàm chận), bất tỉnh, hàm răng cắn chặt, đổ thuốc không vào
- Bán hạ tán, thổi 1 tí vào lỗ mũi, cho nhảy mũi thì khỏi.

7. Trúng phong, mắt miệng méo lệch, mửa đờm dãi, miệng nói ú ớ, chân tay xuôi rũ
- Cỏ Hy thiêm ngày 05 tháng 5, 06 tháng 6 Âm lịch, hái lá rửa sạch, rưới rượu cho vào chõ mà đồ 1 lúc, lấy ra chờ nguội, lại rưới rượu, lại đổ như vậy 9 lần, rồi phơi khô, tán, luyện mật thành viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 100 viên với nước cơm vào lúc đói, rất hay.

8. Trúng phong, méo miệng, cùng trị chứng phong 30 năm
- Lá thông tươi 1 cân, giã nát, ngâm rượu 2 ngày đêm, hơ gần lửa 1 đêm rồi đem ra dùng, lần đầu uống 1/2 thang, dần dần tăng lên 1 thang, thấy đầu mặt ra mồ hôi là khỏi.

9. Tất cả các chứng phong bán thân bất toại, miệng mặt méo
- Kinh giới tươi 1 cân, Bạc hà tươi 1 cân, giã nát, dùng vải lụa bọc, vắt lấy nước cốt, bỏ bã, cho vào nồi đất cô thành cao, chia 3 phần, 2 phần phơi khô, tán, 1 phần làm cao, nhồi lại viên bằng hạt ngô đồng. Ngày uống 30 viên với nước chín vào lúc sáng sớm và tối sắp đi ngủ. Kiêng ăn đồ phong: thịt bò, gà, ngựa, nếp, tôm, cua, cá chép, mắm tôm... Những thức ăn ấy trong thực tế, bệnh ho ăn vào sẽ ho thêm nhiều, bệnh ngoài da ăn sẽ ngứa dữ.

10. Trị 36 chứng phong, 16 chứng tê tay chân không co duỗi được, hoại xương mềm liệt (cốt suy) đều hay cả
- Thạch xương bồ ngâm với nước vo gạo, rửa cho sạch, ky đổ sắt, dùng chày gỗ giã nát, ngâm với rượu, uống, hoặc chế làm viên uống.

11. Trúng phong, thình lình tay chân co rút, không cử động được
- Đậu đen to hạt, dùng chõ đồ, đổ giấm vào 2 thăng, đang khi nóng đổ xuống đất, rồi trải chiếu lên đậu cho bệnh nhân nằm, đắp chăn nhiều lớp, chờ khi đậu nguội, lấy chăn bớt dần, nhưng phải cho người thò tay vào xoa nắn, kéo chỗ bị co rút, rồi lại đổ đậu làm như thế lần nữa. Cho uống kèm thang Trúc lịch, 3 ngày là khỏi.

12. Trúng phong mình mẩy cứng đờ, không thể co duỗi, da cấu không biết đau
- Vỏ cây hòe, bỏ vỏ thô bên ngoài, lấy phần vàng trắng bên trong, thái nhỏ, 2 bát nước với 1 bát rượu sắc còn 1/2 cho uống dần dần, hết thì làm thêm, khỏi mới thôi.
- Lá đào 1 bó, đào 1 cái hố, chất củi đốt đỏ lên, rưới nước vào cho nguội, lót lá đào cho bệnh nhân nằm đến sáng ở chỗ lên hơi, cho ra mồ hôi mới thôi.
- Vỏ cây quít thái mỏng 1 thăng, rượu 2 thăng, ngâm 1 đêm, mỗi lần uống 1 chén, đến khỏi thì thôi.

13. Tất cả các chứng phong, tê liệt tay chân, nhức cả đầu hay nhức một phía, miệng mặt méo, với các chứng phong khác
- Bèo ván, lấy ngày 15 tháng 7, phơi khô, tán, luyện mật làm viên bằng viên đạn, mỗi lần uống 1 viên với nước đậu đen ngâm rượu.
- Lá cành cây liễu 1/2 cân, giã nát; Kinh giới 1/2 cân, với 5 bát nước, dùng nồi đất nấu còn 2 bát, lọc bỏ bã, thêm 1 chén mật ong, 1 chén Trúc lịch đổ chung vào hũ, bịt kín miệng, chưng cách thủy, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 chén.

14. Trúng phong cong mình, uốn ván
- Nam tinh, Bán hạ, 2 vị đều nhau, tán. Mỗi lần uống 1 đc với nước măng tre và nước cốt gừng.

15. Trúng phong, gân cốt không cử động được vì tê lạnh, các khớp xương đau, tay chân co quắp, tinh hoàn rất đau, 1/2 người tê liệt, tê dại
- Lấy nhiều đất chuột đùn, phơi khô, sao nóng, để vào vuông lụa đùm lại, chườm vào chỗ đau, nguội thì thay, làm mãi sẽ khỏi.
- Phân tằm 2 đấu, đồ cho nóng, cũng chườm như trên.
- Ké đầu ngựa dùng cành với lá, rửa sạch, giã nát, đổ vào nồi đất với nước nấu thành nước đặc, lọc bỏ bã, cô thành cao, mỗi lần uống 1 thìa canh với rượu hay nước đậu. Kiêng ăn thịt lợn, gà.

16. Phong lao thũng độc, đau buốt hoặc phong nhập vào bụng dưới, đau lưng
- Đào nhân 1 cáp (bỏ vỏ với đầu nhọn) sao đen, giã nát như bùn, rượu 1 bát hòa đều, uống, ra mô hôi thì thôi, uống 3 ngày thì khỏi.

17. Tất cả các chứng phong và phong cấm khẩu
- Bạch cương tàm 7 con, cấu bổ đầu với chân, sao vàng, dùng miếng Nhục quế ngâm rượu uống, đến khỏi thì thôi.
- Quế 3 đc, tán nhỏ, sắc với 2 chén nước còn 1/2, uống cho ra mồ hôi là được.

18. Kê trảo phong, miệng lập cập, tay run, không cầm nắm được
- Ngũ gia bì 5 phân, Ngưu tất (rửa rượu sao) 4 phân, Thạch hộc 4 phân, Nhục quế (cạo bỏ vỏ) 1 phân, Can khương (sao) 1/2 phân, nước 1 chén, trước dùng đồng tiền cổ đã ngâm sẵn tí dầu vừng, mỗi lần dùng thì lấy 1 đồng tiền thuốc bỏ vào sắc chung, dùng nóng bất kỳ lúc nào cũng được.

19. Trị trúng phong, phong tê, thấp tê, ma tê, tay chân tê liệt hoặc co quắp đau nhức, uống phương này, bệnh 1 năm uống 1 tháng, bệnh 1 tháng uống 5 ngày là khỏi
- Rễ cây Kim anh, tùy bệnh nặng nhẹ mà dùng nhiều hay ít, rửa sạch, sao vàng, bỏ lớp vỏ đen, thái nhỏ, ngâm rượu ngon cho ra nước thật đặc, 1 ngày cứ uống bất kể giờ giấc nhiều ít.

20. Chữa bệnh trúng phong, hàm răng cắn chặt, không mở ra được
- Phèn chua, muối rang, 2 vị bằng nhau, xát vào hàm răng thì chảy nước dãi ra, răng tự nhiên mở ra được.

21. Trúng phong, đờm quyết, chân tay không co lại được, khí bế tắc
- Phèn chua 1 lạng, Bồ kết 5 đc. Hai vị tán nhỏ, mỗi lần uống 1 đc với nước ấm, hễ mửa được đờm ra thì thôi.

22. Trúng phong không nói được, mình lạnh, bất tỉnh
- Độc hoạt 1 lạng, rượu 2 thăng, nấu còn 1 thăng, lấy 5 cáp đậu nành sao vàng, đổ vào rượu, đậy kín một lúc lâu, uống ấm 3 cáp, chưa đỡ lại uống.

23. Trúng ám phong bỗng nhiên ngã vật ra, bất tỉnh
- Tế tân tán thành bột, thổi vào lỗ mũi.

24. Trúng phong khí quyết, vít lấp lại, mê man bất tỉnh, 6 mạch trầm phục
- Phụ tử, Nam tinh, Mộc hương, các vị đều để sống, mỗi vị 1/2 lạng, gừng 9 lát, sắc uống.

25. Trúng phong bất tỉnh, nước dãi trào ra, cấm khẩu, tay chân co kéo
- Trắc bá diệp, củ hành mỗi thứ 1 nắm, nghiền thật nát nhừ, cho 1 thăng rượu nấu sôi lên, chia làm 5 lần, uống ấm rồi mới uống thuốc khác.

26. Trúng phong đã 3 năm
- Lá thông 1 cân, thái nhỏ, nấu với 1 đấu rượu uống cho ra mồ hôi, sẽ khỏi ngay.

27. Trúng phong lạnh toát, thở ra nước trong, quằn quại kêu khóc
- Quế 1 lạng, sắc lấy nước, uống nguội.

28. Trúng phong cấm khẩu, đờm quyết, bất tỉnh nhân sự
- Đởm phàn 1 phân tán bột, hòa rượu ấm uống đến thổ đờm ra được thì thôi.

29. Trúng phong cứng lưỡi
- Hùng hoàng, Bạch chỉ, hai vị đều nhau, tán bột, sắc lên với rượu đổ cho uống.
- Hùng hoàng, Kïnh giới, hai vị đều nhau, tán mịn, dùng đỗ đen sao lên, tẩm rượu, mỗi lần lấy 2 đc pha vào uống.

30. Trúng phong cấm khẩu, bất tỉnh
- Bạch truật 4 lạng, rượu 3 cân, nấu uống.

31. Trúng phong, cấm khẩu
- Lấy mồi ngải cứu huyệt Thừa tương, Giáp xa, cứu mỗi huyệt 5 mồi.
- Trong dùng Kinh giới tuệ, nước Trúc lịch, nước gừng đều nhau, nấu với rượu và nước mà uống.
- Lá phù dung vắt lấy nước, trộn vào ít dầu vừng, hòa uống.

32. Trúng phong cấm khẩu, nước dãi trào lên, nghẹn lấp cổ
- Bồ kết bỏ vỏ, xoa mỡ lợn nướng vàng, tán bột, hòa rượu ấm, uống mỗi lần 1 đc.

33. Trúng phong méo miệng
- Vôi sống sao với giấm, trộn dẻo như bùn, méo bên trái thì đắp bên phải, méo bên phải thì đắp bên trái, sẽ bằng lại được.
Trong dùng hột cây thông, sắc với rượu mà uống.
- Ba đậu 7 hột, nghiền nát nhừ, méo bên phải thì đắp vào lòng bàn tay trái, méo bên trái thì đắp vào lòng bàn tay phải, rồi lấy 1 chén nước nóng để lên chỗ đắp thuốc sẽ khỏi.
- Méo miệng, lấy lá mít hòa ít vôi, nghiền nát ra, méo bên trái thì đắp vào lòng bàn tay phải, hễ bằng lại rồi phải mau rửa sạch.

34. Trúng phong méo miệng, mặt mắt cùng méo xệch, 1 bên má giật gấp, lưỡi không chuyển động được
- Quế tâm nấu với rượu, tẩm vào miếng vải cũ, đắp lên má người bệnh; méo bên trái thì đắp bên phải, méo bên phải thì đắp bên trái. Thường dùng hay lắm.

35. Trúng phong tê liệt, cứ động khó khăn
- Tủy bò nấu chín 1 bát, mật đã luyện 1 cân, lọc qua rồi cho vào bột mì rang 1 cân, gạo rang 3 lạng, quết lại làm viên bằng hòn đạn. Mỗi ngày uống 3 - 4 viên với rượu.
- Ngũ linh chi nghiền ra, hòa vào nước, để trong, lắng, gạn nước trên đi, lấy bột đó hòa với rượu uống, sau uống bài Tục mệnh thang: Phòng kỷ, Quế, Hạnh nhân, Hoàng cầm, Cam thảo, Xuyên khung, Nhân sâm, Ma hoàng, Phụ tử, Đại táo, Gừng, sắc uống.

36. Trúng phong tê liệt 1/2 người, cử động khó khăn, tay chân không cất lên được
- Đại Xuyên ô đầu, dấp nước rồi sao chín, Hồng hải cáp (con sò), mỗi vị 2 lạng rồi tán nhỏ. Mỗi lần dùng nửa lạng, giã hành lấy nước, nhào thành bánh, tùy theo bại bên phải hay trái, bại bên nào đắp vào lòng bàn chân bên đó, ngôi yên ở trong nhà kín, ngâm chân vào chậu nước nóng, hễ mình tê, mồ hôi ra, thì bỏ thuốc đắp đi, cẩn thận tránh gió, tay chân có thể cử động được, cách 1/2 tháng làm lại lần nữa.

37. Trúng phong bại nửa người
- Sinh phụ tử 1 cân, Khương hoạt, Ô dược mỗi vị 1 lạng, tán thành bột, mỗi lần dùng 2 - 3 đc, cho vào gừng 3 lát, sắc lấy nước uống.
- Dùng rễ và lá cây Địa dương (Bồ cu vẽ) bỏ vào nồi đất nấu xông: bại bên phải xông bên trái, bại bên trái xông bên phải.
Lấy nước uống thay chè.

38. Trúng phong, miệng mắt méo xệch
- Thương truật, Phòng phong, Xuyên khung, Tế tân, Nhũ hương, mỗi vị 1 lạng. Khổ luyện tử 5 hay 6 quả, Xương bồ 2 lạng, củ tôi 1 lạng, Kinh giới tuệ, Khương hoạt, Độc hoạt, Tạo giác mỗi vị 5 đc, viên với hồ, lấy Hùng hoàng lăn làm áo ngoài viên thuốc, uống với dầu vừng.

39. Trúng phong không nói được, tê liệt 1/2 người, miệng mắt méo xệch
- Bạch phụ tử, Cương tàm, Toàn yết, các vị bằng nhau, nghiền ra uống với rượu nóng.
- Thương truật 1 lạng, Xuyên tiêu 4 lạng, nấu với rượu tốt uống vào khỏe mạnh nhẹ nhàng, nếu miệng mắt xếch, dùng thuốc đó để đổ.

40. Trúng phong tê liệt 1/2 người đến đỗi người cứng đờ
- Phụ tử 1 lạng, ngâm rượu trong 7 ngày, cách ngày uống 1 cáp.

41. Bị trúng phong hàm răng cắn chặt
- Thiên nam tinh, Phòng phong, đều nhau, tán bột, sắc với nước tiểu, mỗi lần uống 2 đc.
- Trúc lịch 2 - 3 cân, cho uống liên tiếp để mửa. Kiêng uống lạnh và kiêng rượu.

42. Chữa chứng phong miệng mắt méo xệch, hàm răng cắn chặt, đờm đãi chảy ra, và các chứng thời khí cùng trẻ con cấp kinh phong co giật đều chữa được.
Thật là một phương rất hay: Kỳ nam, Trầm hương, Bạch đàn, Thần sa, Chu sa, Nhũ hương, Mộc dược, Hùng hoàng, An tức, Thương truật, mỗi vị 5 đc. Xương bồ, Chích thảo, Tế tân, Mộc hương, Châu giáng hương, Hoắc hương, Nam tinh, Bạch phụ, Tạo giác, Ô dược, mỗi vị 3 đc. Tán nhỏ, viên với hồ bằng hột đậu xanh, lấy Chu sa lăn ngoài làm áo.
- Người lớn, mỗi lần uống 2 viên,
- Trẻ em, mỗi lần uống 1 viên.
- Thang với nước gừng.
- Có thai không nên uống.

43. Trúng phong nói ngượng nghịu, tay chân co rút
- Khương hoạt 2 lạng sắc với rượu và nước, uống.

44. Trúng phong không còn biết gì, sùi bọt, chân tay co giật
- Đương quy, hoa Kinh giới đều nhau, tán nhỏ, 1 chén nước, 1 ít rượu, 1 ít đồng tiện, sắc lấy 7 phân hòa thuốc, đổ xuống cổ họng được là sống.

45. Thân mình cứng, chân tay duỗi cứng
- Uống 1 vài cân Trúc lịch.

46. Chứng phong hư
- Độc hoạt, Bạch tiền bì đều 3 lạng, sắc với rượu, uống.

47. Trúng phong đau sườn
- Sinh địa hoàng, gừng sống đều 5 lạng, giã lẫn, ngâm một đêm, hôm sau đem sao cho khô rồi sấy tán, mỗi lần uống với rượu 1 đc.

Trích từ sách: TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN 
của Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng 
do NXB Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh ấn hành


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chữa Tê Thấp và Đau Nhức - Chay

Còn gọi là Cây Chay. Tên khoa học Artocarpus tonkinensis A. Chev. Thuộc họ Dâu tằm Moraceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Diếp Cá

Còn có tên là cây lá giấp , ngư tinh thảo . Tên khoa học Houttuynia cordata Thunb. Thuộc họ Lá giấp Saururaceae. A. Mô tả cây. Cây diếp cấ là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá, hơi nhọn hay nhọn hẳn. Hoa nhỏ màu vàng nhạt, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng; trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc, toàn cây vò có mùi tanh như cá. Hoa nở về mùa hạ vào các tháng 5-8. (Hình dưới).

Chữa Cảm Sốt - Cỏ Mần Trầu

Còn gọi là ngưu cân thảo, sam tử thảo, tất suất thảo, cỏ vườn trầu, cỏ chỉ tía, cỏ dáng, cỏ bắc, cheung kras (Campuchia), mia pak kouay (Lào). Tên khoa học Eleusine indica (L.) Gaertn. (Cynosurus indica L.) Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramineae).

CÂY THUỐC TRỊ BỆNH THÔNG DỤNG - DIẾP CÁ

Còn gọi là Dấp cá, rau Dấp, cây lá Giếp (Houttuynia cordata Thunb) thuộc họ lá Giấp (Saururaceae). Mô tả: Cây thảo cạo 20-40cm, Thân màu lục troặc tím đỏ. Lá mọc sọ le, hình tim, có bẹ, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá. Cụm hoa hình bông bao bởi 4 lá bắc màu trắng, gồm nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt. Hạt hình trái xoan nhẵn. Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.

Chữa Bệnh Tiêu Hóa - Vối

Tên khoa học Cleistocalyx operculatus (Roxb). Merr et Perry (Eugenia operculata Roxb., Syzygium nervosum DC.). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CHỮA MỤN NHỌT MẨN NGỨA - Đơn Tướng Quân

Tên khoa học Syzygium formosum var , ternifolium (Roxb) Merr. et Perry (Eugenia ternifolia Roxb., Eugenia formosa var. ternifolia (Roxb) Duth). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Hoa Cứt Lợn

Còn có tên là cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, cỏ hôi. Tên khoa học Ageratum conyzoides L. Thuộc họ Cúc Asteraceae(Compositae). A. Mô tả cây Cây hoa cứt lợn là một cây nhỏ, mọc hàng năm, thân có nhiều lông nhỏ mềm, cao chừng 25-50cm, mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Lá mọc đối hình trứng hay 3 cạnh, dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa tròn, hai mặt đều có lông, mật dưới của lá nhạt hơn. Hoa nhỏ, màu tím, xanh. Quả bế màu đen, có 5 sống dọc (Hình dưới).

Chữa bệnh Tim - Vạn Niên Thanh

Còn gọi là thiên niên vận, đông bất điêu thảo, cửu tiết liên. Tên khoa học Rhodea japonica Roth. Thuộc họ Hành Alliaceae. Cần chú ý ngay rằng tên vạn niên thanh ở nước ta thường dùng để gọi nhiều cây khác nhau. Cây vạn niên thanh ta trồng làm cảnh là cây Aglaonema siamense Engl, thuộc họ Ráy Araceae. Còn cây vạn niên thanh giới thiệu ở đây thuộc họ Hành tỏi, hiện chúng tôi chưa thấy trồng ở nước ta, nhưng giới thiệu ở đây để tránh nhầm lẫn.

Đắp vết thương Rắn Rết cắn - Phèn Đen

Còn gọi là nỗ. Tên khoa học Phyllanthus reticulatus Poir. Thuộc họ Thầu dầu Euphorhiaceae.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG

CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG 18 Bài thuốc Năm 1951 ở chiến khu Ð (Nam Bộ) có nhiều cán bộ và chiến sĩ đau dạ dày, chúng tôi phải tốn tiền nhiều để mua biệt dược ở Thành nhưng nào có giải quyết gì được. Tôi không thỏa mãn với cách giải quyết tận gốc bệnh được vì nghĩ rằng ở địa phương có một số nguyên liệu như kaolin chẳng hạn. Tôi khởi sự điều tra trong cơ quan và bộ đội, nguyên nhân nào làm cho đau dạ dày, có khi loét nữa. Kết quả điều tra là trong bộ đội có nhiều người đau hơn cơ quan, ở cơ quan thì nam giới đau nhiều hơn nữ giới. Lý do là vì công tác cho nên bộ đội phải ăn gấp, ăn nhanh hơn ở cơ quan. Ở cơ quan thì “nam thực như hổ, nữ thực như miêu” cho nên nam đau nhiều hơn nữ. Khi ta ăn nhanh thì không có thời giờ để cho nước miếng thấm vào thức ăn cho nên xuống dạ dày thì cơ thể phải tiết acide ra nhiều mới thủy phân được.