Chuyển đến nội dung chính

CÂY RAU LÀM THUỐC - XÀ LÁCH

CÂY RAU LÀM THUỐC - XÀ LÁCH - Lactuca sativa

Xà lách, Rau diếp đều cùng một loài. Chúng đều là những cây thảo sống hằng năm. Thân thẳng, hình trụ, phân cành. Trong thân và cuống lá có mủ trắng. Lá ở gốc, có cuống; còn các lá ở trên không cuống; có 2 tai. Các lá thường nhăn nheo, hơi quăn ở các mép. Hoa đầu hợp thành chuỳ kéo dài, trên mỗi đầu có trên 20 hoa vàng, toàn là hoa hình môi. Quả bế có lông trắng.

Có đến trên 100 thứ Xà lách. Ở nước ta, thường trồng cây Xà lách có lá xếp vào nhau thành một đầu tròn trông tựa như Cải bắp thu nhỏ (ta thường gọi là Xà lách quăn, Xà lách Đà lạt (Lactuca sativa L. var. Capitata L.) thuộc họ Cúc cũng như Rau diếp hay Xà lách thường.

Về nguồn gốc, người ta cũng chưa xác định được rõ, nhưng người Hy lạp và La tinh đã biết dùng nó từ lâu. Người ta đã nói đến tác dụng chữa bệnh gan, chứng mất ngủ... Cây được nhận vào trồng ở nhiều nước nhiệt đới. Ở nước ta, Xà lách đượ trồng ở nhiều nơi, từ vùng đồng bằng tới vùng núi, từ Bắc chí Nam, nó thích ứng với khí hậu mát. Xà lách là món rau ăn tươi rất được phổ biến, nó đóng vai trò món ăn độn, mà món Xà lách trộn giấm là được sử dụng nhiều nhất trong các bữa ăn, bữa tiệc (Xà lách với hành tây trộn giấm, muối tiêu, trên đó xếp cà chua chín thái lát, trứng vịt hay trứng gà luộc, hoặc thịt bò tái xắt mỏng, thịt bò chiên...).

Ngày nay, người ta biết trong thân, lá của Xà lách và Rau diếp đều có các thành phẩn nhự lactucarium mà tác dụng có thể so sánh với thuốc phiện, lactucerin, lactucin, acid lactucic, asparagin, hioscyamin, chlorophin, vitanin A, B, C, D, E, các khoáng chất Fe, Ca, P, I, Mn, Zn, Cu, Na, Cl, K, Co, As, các phosphat, sulfat, sterol, caroten... Người ta đã tìm thấy trong Xà lách có 1 đơn vị vitamin E/50g và 17,7mg vitamin C/100g cây tươi. Để trong 3 ngày, lượng vitarnin C giảm xuống 4mg nếu ta không giữ rễ cây cẩn thận trong nước.

Từ thành phân phong phú trên, người ta đã xác định được các tính chất của Xà lách là giải nhiệt, lọc máu, khai vị (vào đầu bữa ăn, nó kích thích các tuyến tiêu hoá), cung cấp chất khoáng, giảm đau, gây ngủ, làm dịu (kể cả dục tình), trị ho, trị đái đường, làm mềm, lợi sữa, dẫn mật, chống thối.

Xà lách được chỉ định dùng làm thuốc trong các trường hợp thần kinh dễ kích thích, suy nhược tâm thần, đánh trống ngực, co giật nội tạng, chứng đau dạ dày, di mộng tinh, kích thích sinh lý, cương đau do lậu, mất ngủ, mất khoáng chất, ho, ho gà, ho thần kinh, suyễn, đái đường, thừa máu, thống phong, tạng khớp, bệnh sỏi, viêm thận, hành kinh đau bụng, vàng da, sung huyết gan, táo bón.

Người ta có thể dùng Xà lách dưới nhiều dạng:

- Dịch chiết thân và lá, với liều điều trị là 1/2 thìa cà phê dịch, ngày thứ hai 1 thìa, ngày thứ ba 1 thìa 1/2, cho đến ngày thứ mười uống 5 thìa rồi giảm dần trở lại 1/2 thìa. Hoặc dùng Lactucarium tức là dịch khô của cây. Nó có hiệu quả đối với bệnh thấp khớp, thống phong, ho, hen và các rối loạn thần kinh.

Về mùa thu, cắt ngang ngọn cây hoặc chích vát thân cây như chích nhựa thông. Hứng các giọt dịch chảy ra từ các vết thương trong một bình bằng gỗ, khi dịch đã đông đặc, đập ra thành miếng nhỏ rồi phơi khô... Dùng mỗi ngày một lượng dịch khô bằng một hạt đậu Hà lan, tăng dần liều dùng hàng ngày cho đến lượng dịch bằng 10 hạt đậu Hà lan và ngày thứ 10. Sau đó, nghỉ nhiều tuần rồi uống tiếp.

Có thể làm thành xirô, ngày dùng 20 đến 100g (0,01g lactucarium trong 20g, khoảng 1 thìa xúp). Cũng có thể dùng cây cắt ra lấy dịch. Sau đó đem chưng cách thuỷ để có một chất bã cứng. Ngày dùng 1g, trong 6 ngày. Cũng dùng như lactucarium nhưng hiệu quả kém hơn.

- Hãm, hoặc sắc lá hay cây tươi, dùng l nắm lá lớn trong 1 lít nước uống 3-5 ly mỗi ngày giữa các bữa ăn.

- Cồn thuốc: ngâm 1 phần lá tươi với 2 phần rượu (30° hay 40° trong 2 giờ. Cũng dùng như dịch trên. Hoặc dùng cồn thuốc tươi: 60 giọt trước bữa ăn (trị đái đường).

- Để dùng ngoài, có thể sắc nước dùng rửa trị bệnh nấm. Hoặc lấy lá nấu lên lẫn dầu dừa dùng đắp trị mụn nhọt, ápxe, bỏng. Dùng lá đắp liên tiếp vào ngực và vào lưng để trị ho.

Cần chú ý là chất lactucarium không có hại như thuốc phiện, vì nó làm dịu sự kích thích thần kinh. Nó không gây nên táo bón và làm mất cảm giác ăn ngon miệng và không có tác dụng tổn thương đến các bộ máy tuần hoàn và tiêu hóa.

Trích từ sách: Cây Rau Làm Thuốc
của PTS Võ Văn Chi
do NXB TH Đồng Tháp ấn hành

Xem thêm: Giá Trị Dinh Dưỡng và Dược Tính của Rau Xà-Lách


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chữa Tê Thấp và Đau Nhức - Chay

Còn gọi là Cây Chay. Tên khoa học Artocarpus tonkinensis A. Chev. Thuộc họ Dâu tằm Moraceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Diếp Cá

Còn có tên là cây lá giấp , ngư tinh thảo . Tên khoa học Houttuynia cordata Thunb. Thuộc họ Lá giấp Saururaceae. A. Mô tả cây. Cây diếp cấ là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá, hơi nhọn hay nhọn hẳn. Hoa nhỏ màu vàng nhạt, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng; trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc, toàn cây vò có mùi tanh như cá. Hoa nở về mùa hạ vào các tháng 5-8. (Hình dưới).

Chữa Cảm Sốt - Cỏ Mần Trầu

Còn gọi là ngưu cân thảo, sam tử thảo, tất suất thảo, cỏ vườn trầu, cỏ chỉ tía, cỏ dáng, cỏ bắc, cheung kras (Campuchia), mia pak kouay (Lào). Tên khoa học Eleusine indica (L.) Gaertn. (Cynosurus indica L.) Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramineae).

CÂY THUỐC TRỊ BỆNH THÔNG DỤNG - DIẾP CÁ

Còn gọi là Dấp cá, rau Dấp, cây lá Giếp (Houttuynia cordata Thunb) thuộc họ lá Giấp (Saururaceae). Mô tả: Cây thảo cạo 20-40cm, Thân màu lục troặc tím đỏ. Lá mọc sọ le, hình tim, có bẹ, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá. Cụm hoa hình bông bao bởi 4 lá bắc màu trắng, gồm nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt. Hạt hình trái xoan nhẵn. Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.

Chữa Bệnh Tiêu Hóa - Vối

Tên khoa học Cleistocalyx operculatus (Roxb). Merr et Perry (Eugenia operculata Roxb., Syzygium nervosum DC.). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CHỮA MỤN NHỌT MẨN NGỨA - Đơn Tướng Quân

Tên khoa học Syzygium formosum var , ternifolium (Roxb) Merr. et Perry (Eugenia ternifolia Roxb., Eugenia formosa var. ternifolia (Roxb) Duth). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Hoa Cứt Lợn

Còn có tên là cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, cỏ hôi. Tên khoa học Ageratum conyzoides L. Thuộc họ Cúc Asteraceae(Compositae). A. Mô tả cây Cây hoa cứt lợn là một cây nhỏ, mọc hàng năm, thân có nhiều lông nhỏ mềm, cao chừng 25-50cm, mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Lá mọc đối hình trứng hay 3 cạnh, dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa tròn, hai mặt đều có lông, mật dưới của lá nhạt hơn. Hoa nhỏ, màu tím, xanh. Quả bế màu đen, có 5 sống dọc (Hình dưới).

Chữa bệnh Tim - Vạn Niên Thanh

Còn gọi là thiên niên vận, đông bất điêu thảo, cửu tiết liên. Tên khoa học Rhodea japonica Roth. Thuộc họ Hành Alliaceae. Cần chú ý ngay rằng tên vạn niên thanh ở nước ta thường dùng để gọi nhiều cây khác nhau. Cây vạn niên thanh ta trồng làm cảnh là cây Aglaonema siamense Engl, thuộc họ Ráy Araceae. Còn cây vạn niên thanh giới thiệu ở đây thuộc họ Hành tỏi, hiện chúng tôi chưa thấy trồng ở nước ta, nhưng giới thiệu ở đây để tránh nhầm lẫn.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG

CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG 18 Bài thuốc Năm 1951 ở chiến khu Ð (Nam Bộ) có nhiều cán bộ và chiến sĩ đau dạ dày, chúng tôi phải tốn tiền nhiều để mua biệt dược ở Thành nhưng nào có giải quyết gì được. Tôi không thỏa mãn với cách giải quyết tận gốc bệnh được vì nghĩ rằng ở địa phương có một số nguyên liệu như kaolin chẳng hạn. Tôi khởi sự điều tra trong cơ quan và bộ đội, nguyên nhân nào làm cho đau dạ dày, có khi loét nữa. Kết quả điều tra là trong bộ đội có nhiều người đau hơn cơ quan, ở cơ quan thì nam giới đau nhiều hơn nữ giới. Lý do là vì công tác cho nên bộ đội phải ăn gấp, ăn nhanh hơn ở cơ quan. Ở cơ quan thì “nam thực như hổ, nữ thực như miêu” cho nên nam đau nhiều hơn nữ. Khi ta ăn nhanh thì không có thời giờ để cho nước miếng thấm vào thức ăn cho nên xuống dạ dày thì cơ thể phải tiết acide ra nhiều mới thủy phân được.

Đắp vết thương Rắn Rết cắn - Phèn Đen

Còn gọi là nỗ. Tên khoa học Phyllanthus reticulatus Poir. Thuộc họ Thầu dầu Euphorhiaceae.