Chuyển đến nội dung chính

Cây Hoa Chữa Bệnh - CÚC BÁCH NHẬT

Cây Hoa Chữa Bệnh - CÚC BÁCH NHẬT

Tên khác: Thiên nhật hồng, Bông nở ngày, Bách nhật hồng

Tên khoa học: Gomphrena globosa L. Họ Giền (Amaranthaceae).

Nguồn gốc:
Cây nguồn gốc châu Mỹ nhiệt đới, được trồng làm cảnh và làm thuốc ở nhiều nơi tại Việt Nam. Ở Trung Quốc, Indonesia (Đông Nam Á) đều có trồng. Indonesia trồng ở độ cao 1 - 1300m (Java), dùng làm cây cảnh và làm thuốc.

Mô tả:
Cây thảo, mọc hàng năm, cao trung bình 30 - 40 cm; thân hình trụ, trên có phân nhánh, đốt thân hơi phình to, thân và lá đều có lông nhung mềm, nhất là lúc còn non. Lá đơn, mọc đối, cuống ngắn. Phiến lá hình trứng ngược dài 2 - 3 cm, rộng 1 - 2 cm. Những cụm hoa hình đầu, mọc từ kẽ lá và ngọn cành, màu hồng hoặc tím nhạt, phần có màu là các lá bắc hình vẩy, khô, xác, tím, úp vào nhau thành khối hình cầu to bằng ngón tay cái; ở kẽ các vẩy này có những hoa thật, nhỏ, màu vàng. Do cấu tạo bằng các vẩy khô màu tím nên Cúc bách nhật có thể tồn tại trong một thời gian dài (Bách nhật = 100 ngày) mà không rụng cánh, đổi màu. Đường kính cụm hoa là 1,5 - 2 cm, ra hoa vào mùa hè và mùa thu. Cây dễ trồng, chịu hạn nhưng kém chịu rét, không ưa chỗ cớm bóng, thấp trũng. Trồng bằng hạt, cần phòng chống bệnh gỉ sắt bằng phun dung dịch Boóc - đô.

Bộ phận dùng:
Hoa thu hái vào mùa hè và mùa thu, phơi hoặc sấy khô (thắng 7 - 9).

Thành phần hoá học:
Toàn cây chứa gomphrenm (I, II, III, IV, V, VI), các men hoàn nguyên, acid nitric và acid chứa nitrơ khác.

Tác dụng: Sát trùng thanh huyết

Theo Đông y:
Tính vị: Cam, bình.
Công dụng: Thanh can, tân kết, chỉ khái, định suyễn.
Chủ trị: Đầu phong, mục thống (đau mắt), khí suyễn (hen), ho (khái thấu), đi lỵ, ho gà, tiểu nhi; kinh phong; sang dương.

Cách dùng, liều lượng:
Dùng uống: Hoa 4 - 12g, nước sắc; dùng toàn cây thì 20 - 40g.
Dùng ngoài: sắc nước thuốc để rửa.
- Bài thuốc chữa kiết lỵ cấp tính ra mũi, máu: Hoa Cúc bách nhật, dạng thuốc sắc: Người lớn ngày dùng 8 - 16g; đối với trẻ em: ngày dùng 4 - 8g.
- Bài thuốc chữa hen suyễn: Hoa Cúc bách nhật 16 g, Cóc mẩn 12g, lá Táo ta 12g, Hương nhu 12g, lá Sả 8g, Gừng sống 2g, nước 600ml. Sắc kỹ lấy 200ml, chia ra 3 lần uống trong ngày.

Bài viết được trích từ sách: CÂY HOA CHỮA BỆNH
của các tác giả Nguyễn Văn Đàn, Vũ Xuân Quang, 
Ngô Ngọc Khuyến biên soạn, NXB Y Học ấn hành.



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chữa Tê Thấp và Đau Nhức - Chay

Còn gọi là Cây Chay. Tên khoa học Artocarpus tonkinensis A. Chev. Thuộc họ Dâu tằm Moraceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Diếp Cá

Còn có tên là cây lá giấp , ngư tinh thảo . Tên khoa học Houttuynia cordata Thunb. Thuộc họ Lá giấp Saururaceae. A. Mô tả cây. Cây diếp cấ là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá, hơi nhọn hay nhọn hẳn. Hoa nhỏ màu vàng nhạt, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng; trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc, toàn cây vò có mùi tanh như cá. Hoa nở về mùa hạ vào các tháng 5-8. (Hình dưới).

CÂY THUỐC TRỊ BỆNH THÔNG DỤNG - DIẾP CÁ

Còn gọi là Dấp cá, rau Dấp, cây lá Giếp (Houttuynia cordata Thunb) thuộc họ lá Giấp (Saururaceae). Mô tả: Cây thảo cạo 20-40cm, Thân màu lục troặc tím đỏ. Lá mọc sọ le, hình tim, có bẹ, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá. Cụm hoa hình bông bao bởi 4 lá bắc màu trắng, gồm nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt. Hạt hình trái xoan nhẵn. Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.

Chữa Cảm Sốt - Cỏ Mần Trầu

Còn gọi là ngưu cân thảo, sam tử thảo, tất suất thảo, cỏ vườn trầu, cỏ chỉ tía, cỏ dáng, cỏ bắc, cheung kras (Campuchia), mia pak kouay (Lào). Tên khoa học Eleusine indica (L.) Gaertn. (Cynosurus indica L.) Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramineae).

Chữa Bệnh Tiêu Hóa - Vối

Tên khoa học Cleistocalyx operculatus (Roxb). Merr et Perry (Eugenia operculata Roxb., Syzygium nervosum DC.). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CHỮA MỤN NHỌT MẨN NGỨA - Đơn Tướng Quân

Tên khoa học Syzygium formosum var , ternifolium (Roxb) Merr. et Perry (Eugenia ternifolia Roxb., Eugenia formosa var. ternifolia (Roxb) Duth). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Hoa Cứt Lợn

Còn có tên là cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, cỏ hôi. Tên khoa học Ageratum conyzoides L. Thuộc họ Cúc Asteraceae(Compositae). A. Mô tả cây Cây hoa cứt lợn là một cây nhỏ, mọc hàng năm, thân có nhiều lông nhỏ mềm, cao chừng 25-50cm, mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Lá mọc đối hình trứng hay 3 cạnh, dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa tròn, hai mặt đều có lông, mật dưới của lá nhạt hơn. Hoa nhỏ, màu tím, xanh. Quả bế màu đen, có 5 sống dọc (Hình dưới).

Chữa bệnh Tim - Vạn Niên Thanh

Còn gọi là thiên niên vận, đông bất điêu thảo, cửu tiết liên. Tên khoa học Rhodea japonica Roth. Thuộc họ Hành Alliaceae. Cần chú ý ngay rằng tên vạn niên thanh ở nước ta thường dùng để gọi nhiều cây khác nhau. Cây vạn niên thanh ta trồng làm cảnh là cây Aglaonema siamense Engl, thuộc họ Ráy Araceae. Còn cây vạn niên thanh giới thiệu ở đây thuộc họ Hành tỏi, hiện chúng tôi chưa thấy trồng ở nước ta, nhưng giới thiệu ở đây để tránh nhầm lẫn.

Chữa Cảm Sốt - Tía Tô

Còn gọi là tử tô, tử tô tử, tô ngạnh. Tên khoa học Perilla ocymoides L. [Perilla nankinensis (Lour.) Decne, Perilla frutescens (L.) Breit]. Thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae). Ngoài công dụng làm gia vị, cây tía tô cho các vị thuốc sau đây: 1. Tử tô tử (tô tử, hắc tô tử - Fructus Perillae) là quả chín phơi hay sấy khô (ta gọi nhầm là hạt) của cây tía tô. 2. Tử tô (Herba Perillae) là cành non có mang lá của cây tía tô phơi hay sấy khô. 3. Tử tô diệp - Folium Perillae là lá phơi hay  sấy khô. 4. Tô ngạnh (Tử tô ngạnh - Caulis Perillae) là  cành non hoặc cành già phơi hay sấy khô.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG

CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG 18 Bài thuốc Năm 1951 ở chiến khu Ð (Nam Bộ) có nhiều cán bộ và chiến sĩ đau dạ dày, chúng tôi phải tốn tiền nhiều để mua biệt dược ở Thành nhưng nào có giải quyết gì được. Tôi không thỏa mãn với cách giải quyết tận gốc bệnh được vì nghĩ rằng ở địa phương có một số nguyên liệu như kaolin chẳng hạn. Tôi khởi sự điều tra trong cơ quan và bộ đội, nguyên nhân nào làm cho đau dạ dày, có khi loét nữa. Kết quả điều tra là trong bộ đội có nhiều người đau hơn cơ quan, ở cơ quan thì nam giới đau nhiều hơn nữ giới. Lý do là vì công tác cho nên bộ đội phải ăn gấp, ăn nhanh hơn ở cơ quan. Ở cơ quan thì “nam thực như hổ, nữ thực như miêu” cho nên nam đau nhiều hơn nữ. Khi ta ăn nhanh thì không có thời giờ để cho nước miếng thấm vào thức ăn cho nên xuống dạ dày thì cơ thể phải tiết acide ra nhiều mới thủy phân được.