Chuyển đến nội dung chính

CHỮA BỆNH NỘI KHOA - VIÊM GAN VIRUS, VIÊM GAN VÀNG DA, XƠ GAN

CHỮA BỆNH NỘI KHOA - VIÊM GAN VIRUS, VIÊM GAN VÀNG DA, XƠ GAN

Bệnh viêm gan virus, viêm gan vang da (hoàng đản), xơ gan

Bài 1

- Thành phần: Nước ép dưa hấu 100 ml, mật ong 10 gam.

- Cách chế: Đem 2 thứ trên trộn đều.

- Công hiệu: Phòng bệnh viêm gan virus.

- Cách dùng: Uống hết trong 1 lần.

Bài 2

- Thành phần: Vỏ bưởi (bỏ phần cùi trắng), nhân trần lượng thích hợp.

- Cách chế: Đem hai thứ trên nghiền nát.

- Công hiệu: Chữa viêm gan virus cấp tính.

- Cách dùng: Mỗi lần dùng 6 gam uống với nước lã đun sôi, ngày 3 lần.

Bài 3

- Thành phần: Mã thầy 5 củ, lá tre non 6 gam, nứa 1 đoạn.

- Cách chế: Đem sắc kỹ.

- Công hiệu: Chữa viêm gan virus cấp tính.

- Cách dùng: Chia làm 2 lần uống trong mỗi ngày, mỗi đợt uống liên tục trong 1 tháng.

Bài 4

- Thành phần: Phật thủ 9-27 gam, bại tương thảo dùng theo độ tuổi (dưới 10 tuổi l gam, sau đó cứ 2 tuổi tăng 1 gam).

- Cách chế: Đem sắc kỹ.

- Công hiệu: Điều trị viêm gan virus cấp tính.

- Cách dùng: Chia uống 3 lần trong mỗi ngày, mỗi đợt liền trong 10 ngày.

Bài 5

- Thành phần: Táo tầu 15 gam, nhân trần 30 gam.

- Cách chế: Đổ 2 bát nước, sắc đến khi cạn còn 1/3.

- Công hiệu: Chữa viêm gan mạn tính (khi uống thuốc kiêng dầu mỡ, thịt).

- Cách dùng: Uống khi thuốc còn ấm nóng, liền 10 thang.

Bài 6

- Thành phần: Vỏ quả lê, vỏ táo tây mỗi loại 15 gam, ngó sen tươi 100 gam.

- Cách chế: Đem sắc kỹ.

- Công hiệu: Chữa xơ gan mạn tính cổ chướng.

- Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần.

Bài 7

- Thành phần: Tuyết lê 1 quả, giấm ăn vừa đủ dùng.

- Cách chế: Tuyết lê rửa sạch, thái miễng, ngâm trong giấm.

- Công hiệu: Chữa viêm gan vàng da (hoàng đản), có hiệu quả khá tốt làm giảm vàng da.

- Cách dùng: Mỗi ngày ăn 10 miếng lê, chia làm 3 lần

Bài 8

- Thành phần: Phật thủ, thương lục mỗi loại 10 gam, gan lợn 120 gam, dầu sơn trà vừa đủ dùng.

- Cách chế: Phật thủ, thương lục đem nghiền nhỏ, gan lợn đem xào dầu.

- Công hiệu: Có tác dụng nhất định trong điều trị xơ gan cổ chướng.

- Cách dùng: Chấm gan xào với bột phật thủ, thương lục, ăn trước bữa cơm.

Bài 9

- Thành phần: Cẩu kỷ tử 50-100 gam, chè đen 0,5-1 gam.

- Cách chế: Luộc cẩu kỷ tử sôi sau 5 phút, cho chè đen vào.

- Công hiệu: Điều trị bệnh xơ gan.

- Cách dùng: Mỗi ngày uống 1 thang.

Bài 10

- Thành phần: Vỏ dưa hấu 100 gam, gan lợn 30 gam.

- Cách chế: Đem sắc kỹ.

- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định đối với bệnh xơ gan.

- Cách dùng: Vừa uỗng nước sắc vừa ăn gan lợn mỗi ngày 1-2 lần.

Bài 11

- Thành phần: Mận tươi 100-150 gam, chè xanh một ít, mật ong vừa đủ dùng.

- Cách chế: Mận gọt bỏ hạt, đổ 0,3 lít nước đun sôi 3 phút, cho chè xanh, mật ong vào là được.

- Công hiệu: Chữa xơ gan.

- Cách dùng: Uống mỗi ngày 1 thang.

Bài 12

- Thành phần: Quýt to 1 quả, chè xanh 10 gam.

- Cách chế: Khoét 1 lỗ trong quả quýt, cho chè vào, phơi nắng đến khi khô để dùng dần.

- Công hiệu: Chữa bệnh viêm gan vàng da nói chung.

- Cách dùng: Người lớn mỗi ngày 1 quả; trẻ em mỗi lần 1⁄2 đến 1/3 quả, sắc lấy nước uống.

Trích nguồn: NHỮNG BÀI THUỐC TRỊ BỆNH BẰNG TRÁI CÂY
Chủ biên: Hà Duyệt Phi - Vương Lợi Kiệt


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chữa Tê Thấp và Đau Nhức - Chay

Còn gọi là Cây Chay. Tên khoa học Artocarpus tonkinensis A. Chev. Thuộc họ Dâu tằm Moraceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Diếp Cá

Còn có tên là cây lá giấp , ngư tinh thảo . Tên khoa học Houttuynia cordata Thunb. Thuộc họ Lá giấp Saururaceae. A. Mô tả cây. Cây diếp cấ là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân mọc đứng cao 40cm, có lông hoặc ít lông. Lá mọc cách, hình tim, đầu lá, hơi nhọn hay nhọn hẳn. Hoa nhỏ màu vàng nhạt, không có bao hoa, mọc thành bông, có 4 lá bắc màu trắng; trông toàn bộ bề ngoài của cụm hoa và lá bắc giống như một cây hoa đơn độc, toàn cây vò có mùi tanh như cá. Hoa nở về mùa hạ vào các tháng 5-8. (Hình dưới).

Chữa Cảm Sốt - Cỏ Mần Trầu

Còn gọi là ngưu cân thảo, sam tử thảo, tất suất thảo, cỏ vườn trầu, cỏ chỉ tía, cỏ dáng, cỏ bắc, cheung kras (Campuchia), mia pak kouay (Lào). Tên khoa học Eleusine indica (L.) Gaertn. (Cynosurus indica L.) Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramineae).

CÂY THUỐC TRỊ BỆNH THÔNG DỤNG - DIẾP CÁ

Còn gọi là Dấp cá, rau Dấp, cây lá Giếp (Houttuynia cordata Thunb) thuộc họ lá Giấp (Saururaceae). Mô tả: Cây thảo cạo 20-40cm, Thân màu lục troặc tím đỏ. Lá mọc sọ le, hình tim, có bẹ, khi vò ra có mùi tanh như mùi cá. Cụm hoa hình bông bao bởi 4 lá bắc màu trắng, gồm nhiều hoa nhỏ màu vàng nhạt. Hạt hình trái xoan nhẵn. Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.

Chữa Bệnh Tiêu Hóa - Vối

Tên khoa học Cleistocalyx operculatus (Roxb). Merr et Perry (Eugenia operculata Roxb., Syzygium nervosum DC.). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CHỮA MỤN NHỌT MẨN NGỨA - Đơn Tướng Quân

Tên khoa học Syzygium formosum var , ternifolium (Roxb) Merr. et Perry (Eugenia ternifolia Roxb., Eugenia formosa var. ternifolia (Roxb) Duth). Thuộc họ Sim Myrtaceae.

CHỮA BỆNH PHỤ NỮ - Cây Hoa Cứt Lợn

Còn có tên là cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, cỏ hôi. Tên khoa học Ageratum conyzoides L. Thuộc họ Cúc Asteraceae(Compositae). A. Mô tả cây Cây hoa cứt lợn là một cây nhỏ, mọc hàng năm, thân có nhiều lông nhỏ mềm, cao chừng 25-50cm, mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Lá mọc đối hình trứng hay 3 cạnh, dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa tròn, hai mặt đều có lông, mật dưới của lá nhạt hơn. Hoa nhỏ, màu tím, xanh. Quả bế màu đen, có 5 sống dọc (Hình dưới).

Đắp vết thương Rắn Rết cắn - Phèn Đen

Còn gọi là nỗ. Tên khoa học Phyllanthus reticulatus Poir. Thuộc họ Thầu dầu Euphorhiaceae.

Chữa bệnh Tim - Vạn Niên Thanh

Còn gọi là thiên niên vận, đông bất điêu thảo, cửu tiết liên. Tên khoa học Rhodea japonica Roth. Thuộc họ Hành Alliaceae. Cần chú ý ngay rằng tên vạn niên thanh ở nước ta thường dùng để gọi nhiều cây khác nhau. Cây vạn niên thanh ta trồng làm cảnh là cây Aglaonema siamense Engl, thuộc họ Ráy Araceae. Còn cây vạn niên thanh giới thiệu ở đây thuộc họ Hành tỏi, hiện chúng tôi chưa thấy trồng ở nước ta, nhưng giới thiệu ở đây để tránh nhầm lẫn.

TOA THUỐC ĐÔNG Y CỔ TRUYỀN VIỆT NAM - CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG

CHỮA DẠ DÀY, TÁ TRÀNG 18 Bài thuốc Năm 1951 ở chiến khu Ð (Nam Bộ) có nhiều cán bộ và chiến sĩ đau dạ dày, chúng tôi phải tốn tiền nhiều để mua biệt dược ở Thành nhưng nào có giải quyết gì được. Tôi không thỏa mãn với cách giải quyết tận gốc bệnh được vì nghĩ rằng ở địa phương có một số nguyên liệu như kaolin chẳng hạn. Tôi khởi sự điều tra trong cơ quan và bộ đội, nguyên nhân nào làm cho đau dạ dày, có khi loét nữa. Kết quả điều tra là trong bộ đội có nhiều người đau hơn cơ quan, ở cơ quan thì nam giới đau nhiều hơn nữ giới. Lý do là vì công tác cho nên bộ đội phải ăn gấp, ăn nhanh hơn ở cơ quan. Ở cơ quan thì “nam thực như hổ, nữ thực như miêu” cho nên nam đau nhiều hơn nữ. Khi ta ăn nhanh thì không có thời giờ để cho nước miếng thấm vào thức ăn cho nên xuống dạ dày thì cơ thể phải tiết acide ra nhiều mới thủy phân được.